lịch sử việt nam

Trang Chính

lịch sử việt nam suy tôn tổng thống ngô đình diệm, honoring our president ngo dinh diem

Lịch Sử Việt-Nam | Chung quanh bài hát suy tôn Ngô tổng thống và nhìn lại lịch sử Việt Nam(**)

________

 

Vietnamese Lunar New Year 2022, Tết Việt Nam Nhâm Dần 2022, Con cọp, con hổ, tiger, tigre,

Chúc mừng Tết Việt-Nam Nhâm Dần 2022

Kính chúc quý thân hữu, độc giả một năm mới Dương lịch và Tết Việt-Nam Nhâm Dần 2022 An Khang Thịnh Vượng.

Trúc Lâm Việt Quốc, hội sử-học Việt-Nam

@@@

Vì Danh-Dự Dân-Tộc, Chống Tàu cộng
Vì Tương-Lai Đất Nước Chống Việt cộng

@@@

Tết Việt-Nam không phải là Tết Nguyên Đán_Hãy trân trọng, bảo vệ văn hóa Việt tộc và văn hóa Phật giáo Việt-Nam

http://www.truclamyentu.asia/historyofvietnam/tet-viet-nam-nham-dan-2022.html

Hoa Kỳ Nhật Ký | Tin mới | Tin nóng | Thời Sự Tổng Hợp Lưu Trữ 01.2022

Tết Việt Nam | Vietnamese Lunar New Year

Tết đối với người Việt, không chỉ là dịp để quây quần sum họp bên gia đình, mà còn là thời điểm để giữ gìn, trân quý truyền thống văn hóa dân tộc qua việc duy trì những phong tục cổ truyền. (Ảnh: Shutterstock)

Trúc Lâm Việt Quốc

Trên dãy đất vùng Đông Nam Á rộng lớn, những bậc tiền nhân của dòng giống Bách Việt đã xuất hiện, sinh sống rải rác ở khắp vùng cách đây trên 10.000 năm trước Thiên chúa giáng sinh (hay Công Nguyên).

Những bậc tiền nhân của dòng giống Bách Việt, đã biết nương nhờ nơi ao hồ, biển cả để sinh sống bằng cách trồng lúa, đánh cá để nuôi dân chúng. Và một điều khẳng định rằng, giống dân Bách Việt đã là những người phát minh ra cách trồng lúa đầu tiên của nhân loại.

Khi giống Bách Việt xuất hiện, sinh sống bằng nghề trồng lúa, từ đó sản sinh ra nền văn hóa lúa nước của dân tộc.

Do đó, muốn trồng lúa tốt, thu hoạch nhiều là phải nương tựa nơi thời tiết.

Ngoài việc nương tựa nơi thời tiết còn phải kể đến đức tánh khác của dân Việt, đó là biết ơn thời tiết tốt, mưa thuận gió hòa, cũng như đón mừng sự giao mùa thay đổi thời tiết giữa mùa khô và mùa mưa, sự kiện này tổ tiên Bách Việt gọi đó là Tết.

Khi tổ tiên ta, nhóm họp, quy tụ dân chúng lại để lập nên những triều đại đầu tiên của tộc Việt, lúc đó tổ tiên của người Tàu phương Bắc, họ vẫn còn sinh sống trên những đồng cỏ hoang vu của những miền sa mạc lớn ở phía Bắc nước ta. Mãi 1.000 năm sau khi Bách Việt lập quốc, họ mới thành lập những thời Vua đầu tiên. Khi ông Khổng Khâu xuất hiện, ông ta đã sao chép toàn bộ văn minh, lễ nghĩa của Bách Việt để giáo hóa dân Tàu của họ.

Một điều không thể nhầm lẫn được rằng, văn hóa Việt là bậc thầy lớn cho người Tàu phương Bắc.

Triều đại Hùng Vương thứ sáu, đã chế hai loại bánh thể hiện biết ơn trời đất, tổ tiên cũng như dâng cúng trong ngày Tết. Đó là Bánh Dầy (tượng trưng cho trời); Bánh Chưng (tượng trưng cho Đất), nói lên sự kết hợp hài hòa, vuông vức tròn đầy giữa Trời (hình nhi thượng học, tâm lý siêu linh giải thoát) và Đất (hình nhi hạ học, tâm lý nhập thế phục vụ đại chúng).

Người Việt có sự cung tiễn năm cũ cung nghinh năm mới gọi đó là Tết Bách Việt hay Tết Việt Nam;

Người Tàu họ cũng có phong tục riêng để đón sự giao mùa, và gọi đó là Tiết Nguyên Đán.

Theo bác sĩ Nguyễn Hy Vọng cho biết, Tết Việt khác với Tiết Tàu ở thời điểm và phương thức nghinh đón. Tuy nhiên, trong thời gian đô hộ nước ta, người Tàu đã bắt dân ta đón năm mới, đón Tết theo lịch của họ. Lâu ngày dài tháng trở thành thói quen khó thay đổi.

Tuy nhiên, điều mà người Việt chúng ta có thể làm là nên trân trọng ngày Tết của chúng ta bằng cách gọi, dùng đúng chữ viết, danh xưng là Tết Việt-Nam thay vì Tết Nguyên Đán.

Nếu dùng Tết (của dân Việt) Nguyên Đán (của dân Tàu), chữ này, nghĩa này không có phù hợp với văn hóa gốc Việt cũng như văn hóa gốc của Phật giáo Việt Nam.

Từ ngàn xưa như trên đã nêu, văn hóa Việt là thầy dạy cho văn hóa Tàu, nếu dùng cụm chữ Tết Nguyên-Đán có khác gì từ thầy mà trở thành trò của dân Tàu hay sao?

Tết Việt-Nam đã có một truyền thống tư-tưởng văn-hóa lâu dài hàng ngàn năm. Truyền thống tư-tưởng văn-hóa này không thể bị mai một hoặc hiểu lầm.

Rất mong các vị thức giả, quý chư trưởng thượng, quý Tăng Ni cư sĩ hãy rất chú ý trong việc dùng chữ Tết Việt-Nam thay vì Tết Nguyên Đán để góp phần bảo vệ sự toàn vẹn, trong sáng của văn hóa Việt tộc. Thế hệ hôm nay và mai sau sẽ rất trân trọng và biết ơn vô cùng.

Quốc lịch năm thứ 4901; Những ngày cận Tết Việt Nam Nhâm Dần 2022 (23.01.2022)

Trúc Lâm Việt Quốc, hội sử-học Việt-Nam

Thư mục:
1/ Lịch Sử Tư Tưởng Việt-Nam, Giáo sư Nguyễn-Đăng-Thục;
2/ Thiên Niên Sử Thăng Long Thành, Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc;
3/ Việt-Nam: Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông, Du Miên Lê-Thanh-Hoa;
4/ Đem Đại Nghĩa Để Thắng Hung Tàn, Lấy Chí Nhân Mà Thay Cường Bạo, Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc.

***

THÔNG BẠCH Tân Niên 2022 và Tết Nguyên Đán? Nhâm Dần của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu – ngưng trích- 

***

Đọc thêm: Tết là gì?

Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng

Tết không phải do chữ Tiết ? của Tàu mà ra.

Tết là tên riêng [nom propre] gọi ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân ở khắp miền đông nam Á, còn tiết chỉ là một tên thường [nom commun] của Tàu gọi những thời tiết thay đổi trong một năm.

Chỉ có người Việt gọi là Tết, trong khi cả ngàn triệu nguời Tàu gọi ngày đó là duỳn tản ? ? [Nguyên đán] hay là xin nển ? ? [Tân niên]. Vậy tại sao họ không gọi là Tết ? vì Tết không phải là tiếng của họ.

Giờ ta hãy trở lại với cái tên gọi là Tết.

Cách hợp lý để tìm cho ra nguồn gốc của chữ Tết và ý nghĩa của chữ ấy là đi tìm trong tất cả các ngôn ngữ khác nhau ở miền nam Á châu, xem thử có ngôn ngữ nào, cũng có cái tên là tết và cũng có cái cách phát âm, cách đọc, cách nói và cũng có cái nghĩa là ngày lễ ăn mừng đầu năm không ? Dù cho tiếng ấy không phải là tiếng Việt hay là tiếng Tàu.

Nếu không có thì đành vậy chứ sao ! Vậy mà có đấy mà lại có rất nhiều và rất giống nhau gần y hệt, các bạn ơi !

Thật ra từ khi con người xưa ở miền rộng lớn Đông nam Á biết được là cứ đều đều mỗi năm thì mùa gió đổi chiều và đem lại mùa mưa khoảng tháng tư tháng năm, tùy theo từng vùng gió mùa, trước hết là từ bờ biển phía tây của lục địa Ấn độ, rồi chuyển dần qua ngang vùng đất Ấn độ rồi tiếp tục lan qua phía đông đến lần lượt các xứ Bangladesh, Assam, qua Miến điện, Myanmar bây giờ rồi thổi qua Thái Lan, Lào mà đến Việt Nam, rồi tiếp tục cùng lúc lên phía đông bắc là vùng Hoa Nam bên Tàu và xuống phía đông nam là 15.000 hòn đảo của Indonesia.

Cách đây cả chục ngàn năm, con người ở cái vùng gió mùa mênh mộng ấy đã gọi tên là Tết cho cái hiện tuợng trời đất gặp nhau qua mùa qua gió này và họ ăn mừng cái lúc giao mùa đó bằng cái tên là Tết, vì ai mà chẳng biết là không có mùa mưa đến thì kể như không trồng trọt gì được, huống chi là là trồng lúa.

Đông nam Á là vùng của gió mùa mưa, mùa của mấy chục triệu con trâu, của mấy trăm triệu con nguời sống với cây lúa, nơi mà những hạt lúa oriza sativa đã được tìm ra từ 6000 năm trước [tài liệu của ông William Solzheim, đại học Hawai].

Gió mùa và mưa mùa là quyết định dứt khoát của đất trời cho con người ở Đông nam Á. Khi mưa gió không thuận hoà thì hạn hán và đói kém sẽ bao trùm, cuồng phong và lụt lội sẽ tàn phá hàng trăm ngàn mẫu ruộng lúa và giết hại hàng ngàn người. Nông nghiệp và sự sống còn của hàng chục triệu người hoàn toàn tùy thuộc vào cái ân huệ vừa phải của mùa mưa đến hàng năm trên cái phần đất mênh mông này !

Gió mưa đầu mùa là hứa hẹn của năm mới, của một đời sống mới, được chờ đợi khoắc khoải và đón mừng hân hoan, và triền miên có mặt trong mọi lãnh vực tin tuởng, huyền thoại hay tâm linh, và cái thực tế của đời sống hàng ngày của nguời đi cày đi cấy, cũng gắn liền với bao nhiêu cái tinh tuờng đó.

Trên những trống đồng từ ba ngàn năm trước, mấy con ếch, cóc nhái, ễnh ương ệnh oạng nằm chồng lên nhau, mỗi góc trống ba con, như một ám ảnh không ngừng về mùa mưa, về ruộng đồng ao hồ sông nước, về bất cứ mảnh đất nào mà cây lúa có thể mọc lên.

Biết bao nhiêu ca dao tục ngữ, bài vè nói về mùa mưa, về lúa gạo về ếch nhái và về ngàyTết trong tiếng Việt.

Ở xứ Nepal bên đông bắc Ấn độ, ngày lễ đầu mùa mưa cũng gọi là Teetj ; trong mấy ngày đó, người dân bản xứ ăn mừng, ca hát, nhảy múa, đánh đu, uống ruợu, tạt nuớc vào nhau để chúc mừng, chúc lành cho nhau, chúc Teetj. Chung quanh xứ Nepal nhu ở Sikkhim và Bhutan, dân ở đó cung gọi ngày đầu mùa mưa là Tiitj.

Bên Miến điện và Thái Lan thì tha hồ xịt nuớc tạt nước nhau ướt mèm vào ngày đó.

Năm 1986 tôi qua học tiếng Mon bên Thái lan, gặp ngày lễ Song khràn, ngày tết âm lịch cổ truyền của dân Thái xưa, có nghĩa là giao mùa, trùng với mùa lễ Têj, vào 13 đến 15 april của năm dương lịch, bị một cô người Thái ở đền Nakhon Pathom lén bỏ một cục nước đá vào cổ áo sơmi của tôi nó lọt vào xuống lưng lạnh ngắt, cô ấy cười xin lỗi và nói là muốn chúc tết bất ngờ cho tôi theo kiểu tạt nước vào nhau của họ !

Người Lào Thái còn gọi ngày ấy là wan pi may, ngày năm mới.
Người dân Kampuchia thì gọi ngày đó là thngày chul thnăm chmây, ngày vào năm mới [trong lịch cũ của họ thì họ gọi tháng giêng là khae Chêt, tháng tết].

Người Chàm thì gọi là bulan Chit, tháng tết.

Các dân tộc mạn ngược ngoài Bắc Việt, cũng như nhiều dân tộc miền núi ở Trung Việt vẫn có ăn mừng hội mùa mưa, hội ngày mùa còn lớn hon cả hội mùa xuân [theo tài liệu của ông Nguyễn văn Huyên ; " Les chants alternés des garcons et des filles en Annam, 1934 ".

Kể từ khi Tàu qua đô hộ Giao Chỉ cách đây 2000 năm, thì người Giao Chỉ không còn ăn tết vào tháng tư tháng năm của lịch Mường xưa " lịch ngày lui tháng tới " đó nữa mà ăn Tết theo lịch Tàu, mà lịch Tàu hồi xưa thì cũng " bất thùng chi thình ", khi thì ngày đầu năm của Tàu rớt vào tháng chạp, khi thì nhằm vào tháng giêng của họ, và sau nhiều thay đổi, mới gọi là ngày duỳn tán xin nển của họ, chứ Tàu không gọi ngày đầu năm của họ là tiết nhật [sic]bao giờ cả.

Chỉ có vài ông hán việt " chợ chiều " khư khư cố mà tìm cho ra đuợc một cái âm hưởng tàu cho cái tiếng Tết, nên cố tình guợng gạo mà ép cho nó là tiết , cũng như họ đã giải thích kiểu " tầm phào " là Giao Chỉ là ngón chân giao nhau, thật là nói tàm bậy !.
Lạc là chim lạc, ghe chài là ghe tải ! xem Lê ngọc Trụ [trời đất !].

Sau đây là những cognates, từ đồng nguyên, khắp Đông Nam Á, dính líu với TẾT.

Al de Rhodes: Tết

Tết năm [sic], Tết ai, ăn Tết.

Từ Điển Khai Trí Tiến Đức : không hề cho rằng Tết là tiết của Tàu.

Nùng: Tết.

niên Tết là năm Tết.

Muờng: Thết

ăn Thết là ăn Tết

Thái : Thêts Lễ mừng năm mới [New Year celebration].

Thêts khal là Mùa Tết, những ngày Tết.

Thêts Thày là Tết Thái [Thai New Year's celebration].

Thrếts là Tết [theo Từ Điển Francais-Thái của Pallegoix].

Thrếts Chìn là Tết Tàu / Chinese New Year [Chìn là Tàu].

Chêtr là Tết của Thái [fifth lunar month / mid April festival].

Tết / Đết là tên ông thần mưa [rain god, monsoon deity].

Trôts là lễ hội Thái từ xưa vào đầu mùa mưa, cuối April-May.

Trốts Farăng là Tết Hoa-Lang [Western New Year's Day].
[xem bài "Hoa lang đạo là đạo gì?" Bs Nguyễn Hy Vọng [Hoa Lang là: Occident, West].

Zhuang: Xit / Sit làlễ Tết của 20 triệu người Zhuang bên Quảng Tây,

nói tiếng Tai, tiếng Thái xưa !

đuon Sít là tháng Tết [mois de festival célébrant la mousson].
[đươn là tháng]

Chàm: Tít là lễ tháng năm của lịch xưa Chàm [tháng gió mùa bắt đầu thổi]

băng Tít là ăn Tết.

Chêt là Tết.

bu-lăn Chêt là tháng Tết [bu lăn là tháng, tiếng Chàm].

Ktêh là lễ hội lớn nhất trong năm của nguời Chàm.

Mon: Kteh là Ngày đầu năm của dân tộc Mon ở Myannar.

o-Teh là lễ hội lội bùn đầu năm.

o-Tet id

k-Tât l à nghi lễ đầu năm.

k-Tet id

Khmer: Chêtr làTết, lễ mừng tháng năm theo cổ lịch Khmer, là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa gió nồm ở Đông Nam Á. [tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm].

khae Chêtr là tháng Tết [khae là tháng] khoảng 13 tháng 4 dương lịch, khoảng 23 tháng ba âm lịch. Chêtr khal là thời gian có lễ Tết [khal là thời gian].

India: Chêtr là tên tháng tư và tháng năm của cổ lịch Ấn Độ, tên của tháng giao mùa đem mưa đến. [mois du début de la mousson].

Nepal: Teej là lễ đầu năm của dân xứ Nepal.

Mustang: Tidj / Tidji là lễ đầu năm của xứ Mustang, bên cạnh xứ Nepal. Miền đông bắc Ấn Độ.

Munda: Teej là lễ hội Gió Mùa, các nữ sinh ca hát những bài hát cổ Teej, để đánh dấu Gió Mùa trở lại và sự hứa hẹn thịnh vượng.[National Geographic magazine].

Kinh Lễ Ký: Tế-Sạ ! 祭 蜡[âm Hán Việt là Tế Chá]. Khổng Tử nói [trong kinh Lễ Ký]: " Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn người Man, họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó. Họ gọi tên cho ngày đó là "TẾ SẠ". ".

Khổng Tử không nghĩ rằng " tiết " là cái âm sinh ra Tết, nên ổng mới phiên âm khác đi là Tế-Sạ. Hơn nữa, xem trên, có cả chục ngôn ngữ và nền văn hóa khác với Tàu. Ăn mừng ngày đầu năm của họ mà vẫn mang những cái tên mà ý nghĩa, phát âm, cùng cách nói và cách đọc đều giống với cái âm, cái tên, cái tiếng Tết của dân Giao Chỉ và của dân Mường, nên ta phải " suy nghĩ lại " về cái hiểu lầm Tết là Tiết của các ông " Hán Việt " hơn mấy trăm năm qua.

Như vậy, tết là tên gọi cái ngày ăn mừng đầu mùa mưa và sau này trở thành ngày ăn mừng đầu năm âm lịch luôn của các dân Mường, Nùng, Thái, Zhuang, Chàm, Mon, Khmer, Vùng đông bắc Ấn độ, Nepal. Mustang, Munda.

Hỏi nhỏ bạn, bạn có còn cho rằng Tết là Tiết của Tàu mà ra không ?

NGUYỄN HY VỌNG, M.D.

Tài liệu tham khảo :

Ancient China, Howard Edward H. Shafer / Time Life, New York.

Ancient China, Maurizio Scarpari / Barnes Noble, Italy.

Thai Dictionary, Mary Haaj / Stanford, CA, 1964.

The languages of China before the Chinese, Terrien de Lacouperie / London 1887, Taipei, 1966.

A dictionary of the Mon inscriptions, HL Shorto, London, 1971.

Studies in Munda linguistics, Sudhibushan Batacharya / Simla, Calcutta, 1975.

Lao English dictionary, Russell Marcus / Japan, 1975.

Dictionary Lingua Thai, Pellegoix PL 4186 PS 1854 a 1972.

English Hmong dictionary, Lang siong & Joua Siong, Nao Leng Siong PL 4072 4X, 1984.

Introduction to Sino Tibetan [Shafer 1966 - Wiesbaden germany PL 3521,S.

A grammar of the Khasi language [rev H. Roberts / London-

Kegan Paul Trench Hubner and CoLTD, Pater Noster House, Charing Cross Rd, 1891.

Excerpts from Brittanica, 1999.
http://chimviet.free.fr/ngonngu/nguyenhyvong/nhv_TetLaGi.htm

 

@ Trúc-Lâm Yên-Tử.asia

Flag Counter